Nói đến đây, vị Quân cơ lang khẽ mỉm cười, đưa tay chỉ vào mũi mình: “Ừm, cái đám ‘giặc’ mà các ông lớn ngôn quan Ly Dương nhắc đến ấy, chính là thiết kỵ Bắc Mãng chúng ta đây.”
Trong trướng vang lên tiếng cười ầm ĩ, ngay cả trên mặt Đổng Trác cũng thoáng hiện ý cười.
Một vị Đại tất thích thảo nguyên cầm đầu mấy vạn trướng mục dân cười ha hả nói: “Hô Diên quân cơ, nếu ngươi nói sớm như vậy, đám người thô kệch chúng ta đã chẳng sốt ruột rồi. Cứ mãi nói các trại bảo U Châu lợi hại thế này thế nọ, mà chẳng chịu khen ngợi nhi lang Đại Mãng chúng ta một tiếng. Đám võ biền chúng ta, những kẻ thấy đọc sách viết chữ còn đáng sợ hơn cả bị chặt đầu, làm sao mà lọt tai cho được?”
Lần này Đổng Trác đến U Châu chủ yếu là để dội gáo nước lạnh vào các tướng lĩnh tuyến đông, nhưng cũng không phải không có ý muốn cải thiện mối quan hệ căng thẳng giữa quân cơ lang và các võ tướng nắm thực quyền. Việc dẫn binh đánh trận ở Bắc Mãng, đặc biệt là tại Vương đình thảo nguyên phương Bắc, có thể tóm gọn bằng một chữ: Thô! Đổng Trác với tư cách là người đứng đầu triều đình Nam triều, điều hắn muốn làm chính là kết hợp cái đầu của Nam triều với vũ lực của Bắc đình. Hai bên không những không được ngáng chân nhau, mà còn phải dốc sức hợp tác. Điều này tuyệt đối không phải Đổng Trác đang nằm mơ giữa ban ngày. Bởi vì những quân cơ lang am hiểu tinh túy chiến sự Trung Nguyên và tinh thông binh lược trên giấy kia, vốn dĩ cùng các võ tướng tiền tuyến là châu chấu trên cùng một sợi dây, nói cho cùng thì vinh cùng vinh, nhục cùng nhục.
Chỉ cần Đổng Trác chọc thủng lớp giấy ngăn cách đó, hai bên sẽ có thể đồng lòng hiệp lực, trên lưng ngựa lập quân công, dưới lưng ngựa chia quân công. Một mạch đánh hạ U Châu, san phẳng Bắc Lương, thì chẳng khác nào lột sạch y phục của vị quý phụ Trung Nguyên vốn giả vờ thanh cao, ung dung kia. Đến lúc đó, thiết kỵ Bắc Mãng thế như chẻ tre, chủ nhân Trung Nguyên ắt sẽ cùng bệ hạ mang họ Mộ Dung.
